Điều trị bằng laser picosecond đối với sẹo mụn lõm và phì đại do phẫu thuật

Điều trị bằng laser picosecond đối với sẹo mụn lõm và phì đại do phẫu thuật: Theo dõi kết quả in vivo bằng hình ảnh 3D và kính hiển vi tiêu điểm phản xạ

Stefania Guida1, 2 | Giovanni Pellacani1 | Pier Luca Bencini2

1Đơn vị Da liễu, Đại học Modena và Reggio Emilia, Modena, Ý.

2I.C.L.I.D., Milano, Ý.

Thư tín

Stefania Guida, Khoa Da Liễu, Đại học Modena và Reggio Emilia, Via del Pozzo, 71 Modena, Ý.

Email: drstefaniaguida@gmail.com

Tóm tắt

Mục đích: Mối quan tâm ngày càng tăng trong việc điều trị sẹo bằng laser picosecond (PSL) là điều hiển nhiên, mặc dù cơ sở để cải thiện sẹo vẫn chưa được hiểu rõ. Mục đích là cung cấp hiểu biết sâu sắc trong vai trò mới của PSL đối với sự cải thiện sẹo thông qua hình ảnh da in vivo không xâm lấn.

Phương pháp: Tổng 16 bệnh nhân với 20 sẹo phẫu thuật được điều trị với 3 buổi điều trị PSL. Hiệu quả được đánh giá thông qua sự đánh giá “blinded” được thực hiện bởi bác sĩ da liễu bên ngoài. Điểm sẹo Vancouver (VSS), Điểm đánh giá sự cải thiện tổng thể (GAIS), sự hài lòng của bệnh nhân, đánh giá ảnh 3D và kính hiển vi tiêu điểm phản xạ (RCM) tại T0 (trước khi điều trị) và tại T1 (6 tháng sau điều trị). Độ an toàn được đánh giá thông qua đánh giá tác dụng phụ.

Kết quả: Các phát hiện in vivo cho thấy sự điều chỉnh của sắc tố, mạch máu, cải thiện kết cấu (P = .0001; ảnh 3D) và các biến thể của tái tạo collagen (tại RCM) trong cả sẹo phì đại và lõm. Độ dày biểu bì giảm (tại RCM) được quan sát trong sẹo phì đại (P < .01) sau điều trị.

Kết luận: Kết quả của chúng tôi xác nhận rằng PSL là kỹ thuật hiệu quả và an toàn trong điều trị sẹo phì đại và lõm. Chi tiết, chúng tôi mô tả ở đặc trưng 3D và RCM cho phép hình dung các biến thể xảy ra trên da sau điều trị PSL.

Keywords: ảnh 3D, sẹo lõm, sẹo phì đại, ảnh da in vivo, laser picosecond, kính hiển vị tiêu điểm phản xạ.

1 | GIỚI THIỆU

Sẹo do phẫu thuật là kết quả của quá trình sinh học làm lành vết thương ở vùng da bị khuyết, sau khi phẫu thuật cắt bỏ các tổn thương da. Quá trình làm lành vết thương bao gồm ba quá trình chính bắt đầu với viêm, trải qua quá trình tăng sinh, dẫn đến tái tạo da, quá trình này diễn ra trong khoảng 6 tháng khi bị thương.1

Sẹo phẫu thuật bao gồm lõm, phì đại và lồi có thể liên quan đến các mức độ mẩn đỏ hoặc tăng sắc tố khác nhau. Phụ thuộc vào vị trí và kích thước, chúng có thể được coi là dấu vết vĩnh viễn. Vì vậy, sẹo có thể gây ra các vấn đề thẩm mỹ và tâm lý đáng kể cho bệnh nhân cũng như các vấn đề về chức năng.2

Một số phương pháp điều trị đã được sử dụng để điều trị những vết sẹo này. Trong số đó, laser như là xâm lấn (carbon dioxide hay erbium: yttrium – aluminum – garnet [YAG]), laser xung nhuộm và Nd:YAG cho thấy khả năng cải thiện trong sẹo được chọn lựa.2 – 4 

Laser picosecond (PSL) khai thác sự phá vỡ quang học gây ra bằng laser trong da, đã được giới thiệu gần đây. Điều trị với laser PSL fractionated trở nên đặc biệt hấp dẫn vì giảm bớt sự khó chịu và thời gian nghỉ dưỡng ngắn sau khi điều trị laser. Các ứng dụng đầu tiên trong Da liễu được đại diện bằng cách tối ưu hóa xóa xăm,5 – 7 tiếp theo là trẻ hóa da.8 – 11 Mối quan tâm ngày càng tăng trong điều trị sẹo với PSL là điều hiển nhiên đối với các sẹo lõm và phì đại, đã được chứng minh là cải thiện về mặt lâm sàng.12 – 14 Điều thú vị là, phân tích hình ảnh không xâm lấn in vivo đã được chứng minh là cung cấp những hiểu biết mới về các cơ chế cải thiện cơ bản đối với các vết sẹo lõm.14

Mục đích của nghiên cứu này là cung cấp hệ thống PSL cho sẹo lõm và phì đại sau phẫu thuật và báo cáo mô hình in vivo của các vết sẹo và biến thể xảy ra trước và sau điều trị. Trong nghiên cứu này, công cụ quang học 3D đánh giá bề mặt da, nồng độ và phân bố hemoglobin, melanin,15, 16 cũng như kính hiển vi tiêu điểm phản xạ (RCM) cho phép đánh giá da qua độ phân giải gần mô học và cung cấp thông tin in vivo về biểu bì, chức năng đường giao biểu bì (DEJ) và đặc trưng hạ bì,14, 17, 18 được sử dụng để khám phá các tác động của PSL.

2 | PHƯƠNG PHÁP

2.1 | Đối tượng

Tổng cộng có 16 bệnh nhân liên tiếp có sẹo lõm và phì đại lớn hơn 2 cm, bắt nguồn từ nevus hoặc cắt bỏ u nang, đã đăng ký tham gia nghiên cứu (Bảng 1). Tất cả bệnh nhân đã trải qua phẫu thuật cắt bỏ ít nhất một năm trước khi đăng ký. Tiêu chí loại trừ bao gồm sẹo lồi trước đó, tiền sử bệnh mô liên kết, uống retinoids trong vòng 6 tháng trước khi điều trị, bất kỳ loại điều trị sẹo nào trong vòng 1 năm trước khi nghiên cứu, mang thai, cho con bú, điều trị ức chế miễn dịch và bất kỳ bệnh nào khác có thể ảnh hưởng đến quá trình lành vết thương.

Tất cả quy trình được thực hiện trong nghiên cứu có sự tham gia của con người đều phù hợp với Công bố Helsinki và các sửa đổi sau đó hoặc các tiêu chuẩn đạo đức có thể so sánh được. Tất cả các bệnh nhân được đồng ý bằng văn bản.

BẢNG 1. Đặc trưng của 12 bệnh nhân với 16 loại sẹo phẫu thuật

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2.2 | Thiết bị laser

Laser Discovery Pico (Quanta System) là hệ thống PSL Nd:YAG 2 tần số. Bộ tách chùm tia thấu kính fractional cung cấp một loạt microbeam có đường kính 200 µm được bố trí trong khu vực điều trị spot 8 mm. Spot size là 8 mm, bao gồm 60 microdots hội tụ, khoảng cách giữa các microdots là 1 mm (dots pitch). Mật độ năng lượng truyền cho mỗi điểm 8 mm là 1.2 ± 0.2 J/cm2, tương đương mức năng lượng 10 mJ cho mỗi microdot.14

Các vùng vi mô cường độ cao được tạo ra bởi hệ thống PSL fractional được cho là thúc đẩy các tổn thương bên trong da, kích hoạt sự hình thành collagen mới ở da trong quá trình tái tạo.

2.3 | Protocol các buổi điều trị laser

Bệnh nhân được điều trị ba buổi cách nhau hàng tháng với PSL Nd:YAG bước sóng 1064 nm fractionated, được điều trị riêng tư.

Da được khử trùng trước. Không gây tê tại chỗ trước khi điều trị bằng laser. Toàn bộ quy trình điều trị vùng sẹo được nhắm mục tiêu đã được mô tả trước đây.14 Ba pass laser được thực hiện tuần tự theo hàng, bằng cách phát xung ở chế độ painting để đạt được tổng mật độ điểm là 180 điểm cm2, tương ứng gần đúng với 15% bề mặt da tổn thương nhỏ. Năng lượng điều trị được sử dụng đến mức ban đỏ và chấm xuất huyết. Năng lượng cho bước sóng 1064 nm là 1 ± 0.4 được bố trí trong vòng trong 8×8 mm trên mô sẹo mục tiêu.

Sau khi điều trị, bệnh nhân được hướng dẫn sử dụng kem kháng sinh 2 lần 1 ngày trong vòng 7 – 10 ngày. Ngoài ra, kem chống nắng SPF 50+ được kê đơn sử dụng hàng ngày trong vòng 30 ngày sau khi điều trị bằng laser.

2.4 | Hiệu quả

Hiệu quả điều trị PSl cho sẹo được đánh giá bởi 2 bác sĩ da liễu, người phân tích ảnh lâm sàng ban đầu (T0) và 6 tháng sau điều trị (T1). Đối với mỗi đối tượng, bác sĩ da liễu được yêu cầu xác định ảnh sau điều trị. Trong trường hợp bất đồng quan điểm, một bác sĩ thứ ba sẽ tham gia đánh giá.

Ngoài ra, đánh giá lâm sàng được đánh giá với Điểm sẹo Vancouver (VSS) để đánh giá lâm sàng khách quan tại T0 và T1. VSS bao gồm 4 tham số, gồm tổn thương sắc tố (đánh giá từ 0 – 2), tổn thương mạch máu (0 – 3), độ dễ bị ảnh hưởng (0 – 5) và điểm cao (0 – 3).

Hiệu quả được đánh giá thông quá Điểm cải thiện thẩm mỹ tổng thể (GAIS), được hoàn thành bởi cả bác sĩ/nhà nghiên cứu (PGAIS) và đối tượng nghiên cứu (SGAIS) tại T1. Thêm vào đó, bảng câu hỏi sự hài lòng 3 điểm (rất hài lòng, hài lòng và không hài lòng) được sử dụng cho bệnh nhân.

2.5 | Độ an toàn

Trước khi điều trị, tiền sử bệnh của từng đối tượng đã được thu thập và kiểm tra sức khỏe khu vực được điều trị. Đánh giá độ đau của đối tượng được thực hiện trong suốt quá trình điều trị sử dụng Thang đánh giá số 10 điểm có sẵn (1 – 10), trong đó 1 là không đau và 10 là đau nhất. Vào mỗi buổi tái khám, các đối tượng được hỏi về tác dụng phụ tích cực.

2.6 | Đánh giá 3D

Chúng tôi đã thực hiện chụp ảnh da quang học in vivo cho phép đánh giá quang học về cấu trúc da quang học, để giám sát hiệu quả điều trị bằng thiết bị Antera 3D (Antera 3D; Miravex Limited). Thiết bị này khai thác khả năng chiếu sáng đa hướng và sự hỗ trợ của máy tính trong việc tái tạo lại bề mặt da và đánh giá sự phân bố và nồng độ của melanin và hemoglobin.15, 16

2.7 | Ảnh RCM

RCM (Vivascope 1500; MAVIG GmbH) được thực hiện tại T0 và T1 trong khu vực có sẹo.

Đối với mỗi buổi kiểm tra, chuỗi các hình ảnh riêng lẻ có độ phân giải cao được thu thập theo quy trình chuẩn hóa bao gồm bốn hình 4 mm x 4 mm bắt đầu từ lớp sừng cho đến lớp hạ bì nhú (với độ phân giải sâu khoảng 350 µm), với bước nhảy là 30 µm. Một VivaStack (Lucid) (độ phân giải bên 0.5 x 0.5 mm) với độ sâu 2 µm lên đến 100 µm được chụp để đo độ dày biểu bì. Các thông số đồng thời được xác định trước đây của các vết sẹo trên da đã được mô tả. Hai nhà nghiên cứu không tham gia điều trị đánh giá ảnh RCM.

Tính năng tiêu điểm được báo cáo ở các lớp da khác nhau: biểu bì, DEJ và hạ bì.17, 19 Tại lớp biểu bì, sự hiện diện của mô hình tổ ong hoặc đá cuội đã được đánh giá cùng với độ dày biểu bì. Tại lớp DEJ, có thể quan sát các nhú bì kém hoặc được xác định rõ ràng trong các cấp độ da, các hình thái khác biệt của collagen đã được báo cáo, chủ yếu được thể hiện bằng các sợi lưới mỏng hoặc collagen thô.14, 17, 18

2.8 | Phân tích thông kê

Phân tích thống kê được thực hiện với gói thống kê SPSS (IBM). Test t của nhà nghiên cứu được thực hiện để đánh giá sự khác nhau giữa điểm VSS, thông số Antera và độ dày biểu bì (lõm và phì đại tại T0 và độ dày biểu bì tại T0 với T1, có tính đến loại sẹo).

P – value < .05 được coi là có ý nghĩa.

3 | KẾT QUẢ

Tổng 16 bệnh nhân (8 năm và 8 nữ) với 20 sẹo sau phẫu thuật, độ tuổi trung bình 43.5 ± 13.5 tuổi (khoảng từ 25 đến 65) và da loại Fitzpatrick II – III được điều trị.

Tổn thương chủ yếu xuất hiện trên cơ thể (75%), trên mặt (20% tổn thương) và một trên tay chân (Bảng 1). Hơn thế nữa, 50% sẹo phì đại và 50% sẹo lõm.

3.1 | Hiệu quả

Ảnh tiêu chuẩn có thể làm giảm việc đánh giá những thay đổi tinh vi về độ sâu của vết sẹo được điều trị như đã báo cáo trước đây.14, 18 Vì vậy, sự cải thiện thẩm mỹ có thể quá tinh vi để chụp bằng hình ảnh kỹ thuật số 2 chiều (Hình 1A, B và 2 A, B). Tuy nhiên, 75% các đánh giá được che giấu dẫn đến việc lựa chọn chính xác các hình ảnh trước và sau điều trị.

Tất cả 4 thông số của VSS (sắc tố, mạch máu, độ dễ bị ảnh hương và điểm cao) được đánh giá, với trung bình 5.5 ± 1.4 tại T0 và 3.1 ± 1 tại T1 và sự cải thiện trung bình 2.4 ± 0.7, P = 0.000.

Sự cải thiện tổng thể 95% sẹo được đánh giá điểm tổng quan từ cả bệnh nhân (SGAIS) và nhà nghiên cứu (PGAIS) tại T1.

Ngoài ra, đánh giá sự hài lòng thẩm mỹ cho biết 44% bệnh nhân rất hài lòng, 50% hài lòng và 6% không hài lòng.

Hình 1: Ảnh về sẹo lõm tại má trái của người đàn ông 35 tuổi (A) nhìn trực diện lâm sàng tại T0 (B) nhìn trực diện lâm sàng tại T1; Cấu trúc trung bình (C) tại T0 và (D) tại T1; Hình ảnh kính hiển vi tiêu điểm phản xạ cho thấy ở lớp trên hạ bì (E) collagen thô với các sợi collagen có hướng vuông góc so với trục chính của sẹo ở T0, (F) các sợi collagen dạng lưới sắp xếp thành mạng lưới ở T1 (thanh chia độ 0,5 μm)

3.2 | Độ an toàn

Điểm đau trung bình là 3.2 ± 1.5.

Ba tác dụng phụ sau quy trình được báo cáo: ban đỏ, chấm xuất huyết và đỏng vảy.

Những tác dụng này được quan sát sau quy trình của tất cả bệnh nhân, kéo dài giới hạn từ 7 đến 10 ngày. Không có giảm/tăng sắc tố được báo cáo trong nhóm bệnh nhân có loại da Fitzpatrick II – III.

3.3 | Đánh giá 3D

Thiết bị ảnh 3D thực hiện đánh giá khách quan về phản ứng lâm sàng, vượt qua giới hạn đánh giá ảnh 2D. Kết quả được báo cáo ở bảng S1. Kết cấu trung bình tại T0 là 29 ± 4.1, qua T1 là 23.9 ± 3.3, cho thấy mức cải thiện trung bình là 5.1 ± 2.4, P = .0001 (Hình 1 C, D và 2 C, D) và sự giảm nhẹ hemoglobin từ T0 đến T1 (trung bình ở T0 là 1.5 ± 0.1 vs 1.4 ± 0.1, sự cải thiện trung bình = 0.06 ± 0.09, P = .17) và mức độ melanin (trung bình ở T0 là 0.7 ± 0.1 vs 0.6 + 0.1, cải thiện trung bình 0.03 ± 0.04, P = .2) được quan sát ở 3D, mặc dù không có ý nghĩa thống kê.

3.4 | Đánh giá RCM

Tại T0, đặc trưng biểu bì bao gồm mẫu tổ ong (80% sẹo) trong khi 20% sẹo (tất là là lõm) có mẫu đá cuội (Bảng S2). Độ dày biểu bì trung bình là 50.7 ± 11.3 µm. Độ dày biểu bì được phát hiện có liên quan đến loại sẹo với sẹo lõm có độ dày trung bình 43 ± 10.3 µm và sẹo phì đại 58.5 ± 5.3 µm, P = .0005. Ngoài ra, ở mức DEJ, đa số sẹo cho thấy các đặc trưng không thể kết luận trong 20% sẹo (tương ứng với các vết sẹo có đốm sắc tố ở cấp độ biểu bì) có những nhú bì hình bầu dục hiếm gặp có thể quan sát được trong da bị tổn thương. Hơn nữa, collagen thô hoặc các bó collagen dày song song, với hướng vuông góc phổ biến so với trục chính của sẹo sau phẫu thuật, được quan sát thấy ở lớp trên hạ bì (Hình 1 E, F và 2 E, F) (Bảng S2).

Tại T1, tất cả sẹo cho thấy mẫu tổ ong tại cấp biểu bì. Độ dày biểu bì trung bình là 44.5 ± 7.4 µm, giảm đáng kể so với T0 (P = .045). Một phân tích phụ được thực hiện để đánh giá loại sẹo có ảnh hưởng đến việc giảm độ dày biểu bì. Độ dày trung bình của sẹo lõm là 43 ± 10.3 tại T0 và 40 ± 7.1 tại T1 (P = .458), trong khi đối với sẹo phì đại, độ dày trung bình là 58.5 ± 5.3 tại T0 và 49 ± 4.6 tại T1 (P = .0004). Tại DEJ, 75% sẹo cho thấy nhú hạ bì có thể nhìn thấy trong khi ở mức hạ bì, các sợi collagen dạng lưới mỏng và sang được sắp xếp để tạo thành mạng lưới trong 95% trường hợp (Bảng S2).

Hình 2: Hình ảnh một vết sẹo phì đại nằm ở phía trên bên phải của một người đàn ông 34 tuổi (A) xem lâm sàng tại T0 (B) lâm sàng tại T1; Kết cấu trung bình (C) tại T0 và (D) tại T1; Hình ảnh kính hiển vi tiêu điểm phản xạ cho thấy ở lớp trên hạ bì: (E) collagen thô với các sợi collagen thể hiện hướng vuông góc so với trục chính của sẹo tại T0, (F) các sợi collagen dạng lưới sắp xếp thành mạng lưới ở T1 (vạch chia độ 0,5 μm)

4 | THẢO LUẬN

Sau khi phẫu thuật da, sự phát triển sẹo có thể xảy ra mặc dù sử dụng kỹ thuật khâu hiện đại và chúng có thể gây ra các vấn đề tâm lý hoặc suy giảm chức năng cho bệnh nhân, tùy thuộc vào vị trí da.

Để cải thiện sẹo, các phương pháp điều trị khác nhau đã được sử dụng. Trong số này, các phương pháp điều trị nội khoa, vật lý và phẫu thuật, tùy thuộc và loại sẹo, thường thu được kết quả hạn chế.20 – 26 Tuy nhiên, ngày càng tăng bằng chứng về cải thiện sẹo bằng phương pháp điều trị PSL đang xuất hiện.12 – 14

Phương pháp tiêu chuẩn để theo dõi phản ứng của da với các phương pháp điều trị dựa trên sinh thiết da. Tuy nhiên, những tiến bộ trong kỹ thuật hình ảnh da không xâm lấn như hình ảnh 3D và RCM đã cho phép đánh giá in vivo các biến thể xảy ra ở cùng một điểm của da, phân tích các thông số khác nhau như kết cấu trung bình và các lớp khác nhau, bao gồm biểu bì, DEJ và hạ bì.14 – 18

Cải thiện sẹo có thể bao gồm độ dễ bị ảnh hưởng của da được nâng cao, tăng độ đồng đều về màu sắc và độ sâu của sẹo so với vùng da xung quanh. Trong khi độ ảnh hưởng có thể được đánh giá chủ yếu trên lâm sàng, các đặc điểm khác của sẹo hiện có thể được đánh giá khách quan thông qua các công cụ chụp ảnh da in vivo, nhằm khắc phục những hạn chế liên quan đến hình ảnh 2D. Trong nghiên cứu hiện tại, phương pháp điều trị PSL đã được chứng minh là hiệu quả và an toàn trên 20 vết sẹo xảy ra ở 16 bệnh nhân khác nhau, trong đó 50% sẹo lõm và 50% phì đại. Sự cải thiện của vùng mục tiêu đã được quan sát thấy ở hầu hết các bệnh nhân, được đánh giá bằng các đánh giá do bác sĩ da liễu bên ngoài không tham gia điều trị thực hiện, VSS, GAIS, sự hài lòng của bệnh nhân, hình ảnh 3D và đánh giá RCM.

Hình ảnh 3D cho thấy sự cải thiện đáng kể của kết cấu trung bình, hỗ trợ hiệu quả được quan sát lâm sàng, cũng như điều chỉnh sắc tố và mạch máu. Ở cấp độ DEJ và hạ bì, RCM làm nổi bật các sợi collagen dạng lưới mỏng được tổ chức thành mạng lưới, được liên kết với các nhú hạ bì hình bầu dục hiếm gặp, sau khi điều trị, như đã được báo cáo trước đây đối với sẹo lõm.14 Độ sáng tăng lên của các sợi collagen xảy ra ở T1 đã được giả thuyết có liên quan đến sự gia tăng tái tạo collagen bởi các nguyên bào sợi.26 Hơn nữa, RCM cho phép đánh giá các biến thể gây ra bởi điều trị PSL ở cấp độ biểu bì, với sự biến mất của sắc tố lốm đốm và giảm độ dày của biểu bì, điều này sau này được tìm thấy có ý nghĩa trong các vết sẹo phì đại đặc biệt. Do đó, đóng góp vào việc giảm độ sâu của sẹo phì đại được quan sát lâm sàng, được đo lường thông qua VSS, dường như không chỉ liên quan đến việc tái tạo collagen mà còn liên quan đến giảm độ dày biểu bì. Điều thú vị là những kết quả này dường như phù hợp với sự tái lập cấu trúc liên tục ở vùng da bị thương liên quan đến các biến thể của tế bào sừng và tăng sinh nguyên bào sợi và lắng đọng collagen.1

Ngoài ra, điều trị PSL dường như là một phương pháp điều trị an toàn vì các tác dụng phụ duy nhất được báo cáo là ban đỏ, đốm xuất huyết và đóng vảy, kéo dài 7‐10 ngày, trong khi không có báo cáo giảm/tăng sắc tố so với laser CO2 xâm lấn bề mặt truyền thống.23

Hạn chế của nghiên cứu này là số lượng đối tượng tham gia ít, thiếu nhóm đối chứng, thiết kế cũ và không có các đánh giá mô bệnh học (mặc dù các nghiên cứu trước đây đã đưa ra các đặc điểm chồng chéo giữa các đặc điểm RCM và mô bệnh học17). Tuy nhiên, nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết mới về tác dụng của điều trị PSL đối với sẹo lõm và phì đại bằng phương pháp chụp ảnh in vivo không xâm lấn với bằng chứng về hiệu quả lâm sàng và mức độ hài lòng cao của bệnh nhân.

Do đó, PSL dường như mở ra chân trời mới trong việc điều trị sẹo phẫu thuật đầy thách thức, cơ bản ở đây là cả tầm quan trọng của laser cải tiến với nhiều ứng dụng trong Da liễu cũng như vai trò quan trọng của bác sĩ Da liễu trong việc quản lý các công cụ hình ảnh da không xâm lấn, không chỉ trong lĩnh vực chẩn đoán mà còn trong việc đánh giá hiệu quả điều trị, cung cấp những hiểu biết mới về cơ chế hoạt động của các phương pháp điều trị mới. Các nghiên cứu sâu hơn được đảm bảo để xác nhận những kết quả này.

Bảng 2. Thang điểm cải thiện thẩm mỹ toàn bộ vào tháng thứ 6

PGAIS, N (%)
Cải thiện rất nhiều 7 (35)
Cải thiện nhiều 8 (40)
Cải thiện 4 (20)
Không thay đổi 1 (5)
Tệ 0
Tổng cải thiện 19 (95)
SGAIS, N (%)
Cải thiện rất nhiều 9 (45)
Cải thiện nhiều 6 (30)
Cải thiện 4 (20)
Không thay đổi 1 (5)
Tệ 0
Tổng cải thiện 19 (95)

5 | KẾT LUẬN

PSL đại diện cho một lĩnh vực ứng dụng thú vị và đang phát triển trong điều trị sẹo. Trong nghiên cứu này, PSL đã được sử dụng để nghiên cứu các cơ chế cơ bản của việc cải thiện sẹo. Các phát hiện in vivo thu được bằng hai kỹ thuật không xâm lấn khác nhau — công cụ hình ảnh 3D cũng như RCM — cho thấy cơ sở cho sự đồng nhất của màu sắc thông qua việc điều chỉnh sắc tố và mạch máu và độ sâu của sẹo liên quan đến cải thiện kết cấu và tái tạo collagen ở cả hai sẹo lõm và sẹo phì đại và góp phần làm giảm độ dày biểu bì trong sẹo phì đại; chúng tôi giả thuyết rằng những biến thể này có thể đại diện cho một số cơ chế cơ bản để cải thiện sẹo sau khi điều trị PSL fractional.

SỰ NHÌN NHẬN

Các tác giả chân thành cảm ơn Tiến sĩ Debora Malpighi vì sự hỗ trợ kỹ thuật của bà.

ORCID

Stefania Guida ID http://orcid.org/0000-0002-8221-6694

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Son D, Harijan A. Overview of surgical scar prevention and management. J Korean Med Sci. 2014; 29: 751 – 757.
  2. Vas K, Gaál M, Varga E, et al. Effects of the combined PDL/Nd:YAG Laser on surgical scars: vascularity and collagen changes evaluated by in vivo confocal microscopy. Biomed Res Int. 2014; 2014: 204532.
  3. Jang J – U, Kim S – Y, Yoon E – S, et al. Comparison of the effectiveness of ablative and non – ablative fractional laser treatment for early stage thyroidectomy scars. Arch Plast Surg. 2016; 43: 575 – 581.
  4. Alster TS, Hanrisk C. Laser treatment of hypertrophic scars, keloids, and striae. Semin Cutan Med Surg. 2000; 19: 287 – 292.
  5. Ross EV, Naseef G, Lin C, et al. Comparison of responses of tattoos to picosecond and nanosecond Q – switched neodumium: YAG lasers. Arch Dermatol. 1998; 134: 167 – 171.
  6. Izikson L, Farinelli W, Sakamoto F, Tannous Z, Anderson RR. Safety and effectiveness of black tattoo clearance in a pig model after a single treatment with a novel 758 nm 500 picosecond laser: A pilot study. Lasers Surg Med. 2010; 42: 640 – 646.
  7. Brauer JA, Reddy KK, Anolik R, et al. Successful and rapid treatment of blue and green tattoo pigment with a novel picosecond laser. Arch Dermatol. 2012; 148: 820 – 823.
  8. Habbema L, Verhagen R, Van hal R, Liu Y, Varghese B. Minimally invaise non – thermal laser technology using laser – induced optical breakdown for skin rejuvenation. J Biophotonics, 2012; 5: 194 – 199.
  9. Habbema L, Verhagen R, Van Hal R, Liu Y, Varghese B. Efficacy of minimally invasive nonthermal laser – induced optical breakdown technology for skin rejuvenation. Lasers Med Sci. 2013; 28: 935 – 940.
  10. Weiss RA, McDaniel DH, Weiss MA, Mahoney AM, Beasley KL, Halvorson CR. Safety and efficacy of a novel diffractive lens array using a picosecond 755nm alexandrite laser for treatment of wrinkles. Lasers Surg Med. 2017; 49: 40 – 44.
  11. Khetarpal S, Desai S, Kruter L, et al. Picosecond laser with specialized optic for facial rejuvenation using a compressed treatment interval. Lasers Surg Med. 2016; 48: 723 – 726.
  12. Brauer JA, Kazlouskaya V, Alabdulrazzaq H, et al. Use of a picosecond pulse duration laser with specialized optic for the treatment of facial acne scarring. JAMA Dermatol. 2015; 151: 278 – 284.
  13. Choi YJ, Kim JY, Nam JH, Lee GY, Kim WS. Clinical outcome of 1064 nm picosecond neodymium – doped yttrium aluminium garnet laser for the treatment of hypertrophic scars. J Cosmet Laser Ther. 2019; 21: 91 – 98.
  14. Guida S, Bencini PL, Pellacani G. Picosecond laser for atrophic surgical scars treatment: in vivo monitoring of results by means of reflectance confocal microscopy. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2018; 33 (3): e114 – e116.
  15. Cantisani C, Paolino G, Pellacani G, et al. MAL daylight photodynamic therapy for actinic keratosis: clinical and imaging evaluation by 3D Camera. Int J Mol Sci. 2016; 17:1108.
  16. Guida S, Nisticò SP, Farnetani F, et al. Resurfacing with ablation of periorbital skin technique: indications, efficacy, safety, and 3D assessment from a pilot study. Photomed Laser Surg. 2018; 36: 541 – 547.
  17. Longo C, Casari A, Beretti F, Cesinaro AM, Pellacani G. Skin aging: in vivo microscopic assessment of epidermal and dermal changes by means of confocal microscopy. J Am Acad Dermatol. 2013; 68: e73 – 82.
  18. Guida S, Galimberti MG, Bencini M, Pellacani G, Bencini PL. Treatment of striae distensae with non – ablative fractional laser: clinical and in vivo microscopic documentation of treatment efficacy. Lasers Med Sci. 2018; 33: 75 – 78.
  19. Farnetani F, Scope A, Coco V, et al. Paradigmatic cases of pigmented lesions: How to not miss melanoma. J Dermatol. 2016; 43 (12): 1433 – 1437.
  20. Tziotzios C, Profyris C, Sterling J. Cutaneous scarring: Pathophysiology, molecular mechanisms, and scar reduction therapeutics Part II. Strategies to reduce scar formation after dermatologic procedures. J Am Acad Dermatol. 2012; 66: 13 – 24.
  21. Gold MH. Dermabrasion in dermatology. Am J Clin Dermatol. 2003; 4: 467 – 471.
  22. Elsaie ML, Choudhary S, McLeod M, Nouri K. Scars. Curr Probl Dermatol. 2011; 42: 131 – 139.
  23. Oliaei S, Nelson JS, Fitzpatrick R, Wong BJ. Laser treatment of scars. Facial Plast Surg. 2012; 28: 518 – 524.
  24. Weiss ET, Chapas A, Brightman L, et al. Successful treatment of atrophic postoperative and traumatic scarring with carbon dioxide ablative fractional resurfacing: quantitative volumetric scar improvement. Arch Dermatol. 2010; 146: 133 – 140.
  25. Bouzari N, Davis SC, Nouri K. Laser treatment of keloids and hypertrophic scars. Int J Dermatol. 2007; 46: 80 – 88.
  26. Bencini PL, Tourlaki A, Galimberti M, et al. Nonablative fractional photothermolysis for acne scars: clinical and in vivo microscopic documentation of treatment efficacy. Dermatol Ther. 2012; 25: 463 – 467.

THÔNG TIN HỖ TRỢ

Thông tin hỗ trợ bổ sung có thể được tìm thấy trực tuyến trong phần Thông tin hỗ trợ ở cuối bài viết.

Cách trích dẫn bài viết này: Guida S, Giovanni P, Bencini PL. Laser Picosecond điều trị sẹo phẫu thuật lõm và phì đại: Theo dõi kết quả in vivo bằng phương tiện hình ảnh 3D và kính hiển vi tiêu điểm phản xạ. Da Res Technol. 2019; 00: 1 – 7. https://doi.org/10.1111/srt.12755